Qui trình SCRUM

SCRUM là quy trình đã được định rõ của phương pháp AGILE giúp theo dõi và điều khiển các hoạt động phát triển phần mềm. Nó bao gồm những mảng hoạt động thiết lập, theo dõi, và quản lý những việc chưa làm xong, các công việc hiện tại, những rũi ro, các sự cố và những thay đổi. Một dự án phần mềm triển khai bằng SCRUM được quản lý qua việc thiết lập, bảo quản, và theo dõi các thông số điều khiển then chốt. Các cơ chế mang tính kiểm soát này rất quan trọng khi việc phát triển phần mềm liên quan đến những rũi ro không định lượng được hay những tình trạng không dự đoán trước được. Việc sử dụng những cơ chế kiểm soát này cũng là yếu tố then chốt trong quy trình phát triển phần mềm SCRUM. Các thông số kiểm soát luôn được đo lường, theo dõi, và phối hợp với nhau. Hai thông số chính là (danh sách) những việc chưa hoàn tất và rũi ro. Danh sách những việc chưa hoàn tất lúc đầu thường nhiều, sau đó gia tăng thêm trong quá trình lập kế hoạch, và rồi giảm dần đi khi dự án được tiến hành (qua các bước) – do chúng hoặc đã được giải quyết xong hoặc đã bị hủy bỏ, và rồi sẽ không còn nữa khi phần mềm được hoàn tất. Rũi ro sẽ gia tăng khi càng nhiều sự cố, vấn đề, và những việc chưa làm xong được xác định thêm, sau đó (rũi ro) sẽ giảm đến mức chấp nhận được khi phần mềm được chỉnh sửa. SCRUM cho phép nhóm phát triển tự xác định khi nào hệ thống (phần mềm) là “đủ tốt” để chuyển giao cho khách hàng.

Tiến trình của SCRUM

Với phương pháp SCRUM, mọi quy trình dự án đều đi qua một series các vòng lặp, thường dài từ 2 đến 4 tuần, gọi là những đợt chạy nước rút (Sprint). SCRUM đặc biệt thích hợp với các dự án có yêu cầu hay nhanh chóng thay đổi. Những việc phải làm trong một dự án SCRUM được liệt ra trong Danh sách các Việc chưa làm cho Sản phẩm (Product Backlog), liệt kê tất cả những thay đổi muốn có cho sản phẩm. Ở đầu mỗi đợt chạy nước rút (Sprint), một cuộc Gặp gỡ Lên kế hoạch cho Đợt chạy nước rút (Sprint Planning Meeting) được tổ chức với người “Chủ” Sản phẩm (Product Owner) lên thứ tự ưu tiên trước sau cho các phần việc trong Danh sách các Việc chưa làm cho Sản phẩm (Product Backlog) và nhóm SCRUM (SCRUM Team) sẽ chọn ra những phần việc mà họ sẽ hoàn tất trong đợt chạy nước rút (Sprint) đó. Những phần việc đó sẽ được rút ra khỏi Danh sách các Việc chưa làm cho Sản phẩm (Product Backlog) và đưa vào Danh sách Những việc chưa làm xong trong Đợt chạy nước rút (Sprint Backlog). Mỗi ngày, một cuộc họp gọi là “SCRUM hàng ngày” (Daily SCRUM) được tổ chức nhằm giúp nhóm dự án tập trung với những việc đang cần làm của họ. Những cuộc họp “SCRUM hàng ngày” (Daily SCRUMs) giúp làm rõ việc gì ai trong nhóm đang làm, hỗ trợ vấn đề chia sẻ kiến thức, giảm thiểu các việc làm trùng lặp, và đảm bảo các phần việc đang làm có thể tích hợp được với nhau. Ở cuối mỗi đợt chạy nước rút (Sprint), nhóm dự án trình bày toàn bộ chức năng sản phẩm (đã hoàn tất trong đợt chạy nước rút đó) ở cuộc Gặp gỡ Đánh giá Đợt chạy nước rút (Sprint Review Meeting). Vấn đề then chốt trong triển khai SCRUM là các vai trò, trách nhiệm, và bổn phận (trong nhóm dự án), được định rõ như sau:

“Chủ” Sản phẩm có các trách nhiệm sau:
· Xác định các tính năng của sản phẩm;
· Quyết định nội dung và ngày ra sản phẩm;
· Chịu trách nhiệm về lợi nhuận của sản phẩm (ROI);
· Ưu tiên thứ tự (phát triển) trước sau của các tính năng sản phẩm dựa theo các giá trị thị trường;

· Cứ sau 30 ngày thì chỉnh sửa lại các tính năng và thứ tự ưu tiên của chúng, nếu cần; và
· Duyệt hoặc không duyệt kết quả những phần việc (của các thành viên trong dự án).

“Trưởng” SCRUM là một người lãnh đạo hỗ trợ cho nhóm dự án, làm việc chặt chẽ với “Chủ” Sản phẩm:

· Đảm bảo nhóm dự án hoạt động tốt và có hiệu quả;
· Tạo điều kiện cho sự hợp tác chặt chẽ giữa các vai trò và chức năng trong dự án;
· Tháo bỏ các rào cản (nếu có);
· Bảo vệ nhóm dự án khỏi những can thiệp từ bên ngoài vào; và

· Đảm bảo theo sát quy trình (SCRUM); bao gồm việc mời mọi người tham dự các cuộc họp “SCRUM hàng ngày” (Daily SCRUMs), các cuộc Gặp gỡ Đánh giá những Đợt chạy nước rút (Sprint Review Meetings), và các cuộc Gặp gỡ Lên kế hoạch cho Đợt chạy nước rút (Sprint Planning Meeting).

Nhóm Dự án:
· Đa chức năng, thường gồm bảy (hoặc ít hơn hay nhiều hơn hai) thành viên (nữa);
· Chọn mục tiêu cho từng Đợt chạy nước rút (Sprint) và mô tả kết quả công việc sẽ như thế nào;
· Có quyền làm mọi thứ trong phạm vi quy định về triển khai dự án để đạt được mục tiêu của từng đợt chạy nước rút (Sprint);

· Tự tổ chức nhóm và công việc của nhóm; và
· Trình diễn kết quả công việc cho “Chủ” Sản phẩm xem.

Có 4 hoạt động SCRUM: Gặp gỡ lên Kế hoạch cho Đợt chạy nước (Sprint Planning Meeting), Họp mặt SCRUM hàng ngày (SCRUM Daily), và Nhìn nhận lại Đợt chạy nước rút (Sprint Retrospective).

Các hoạt động SCRUM

Gặp gỡ lên Kế hoạch Đợt chạy nước rút (Sprint Planning Meeting)

Việc chuẩn bị cho một đợt chạy nước rút (sprint) bắt đầu khi “Chủ” Sản phẩm lên kế hoạch cho một sản phẩm hay dự án. “Chủ” Sản phẩm có thể là khách hàng hoặc đại diện của khách hàng. Người “Chủ” Sản phẩm phải có tầm nhìn cho sản phẩm cũng như cho mục đích của sản phẩm để có thể chia nhỏ sản phẩm thành nhiều phần theo một kế hoạch tổng thể (hay lộ trình thực hiện). Kế hoạch này nêu rõ những đợt duyệt thành phẩm, với mỗi đợt tập trung vào những tính năng nào đó của sản phẩm. Người “Chủ” Sản phẩm chuẩn bị một danh sách những yêu cầu của khách hàng theo thứ tự giá trị thương mại. Danh sách này gọi là Danh sách các Việc chưa làm cho Sản phẩm (Product Backlog), là danh sách những tính năng được thứ tự hóa theo giá trị chuyển giao cho khách hàng.

Dự án SCRUM bắt đầu khi Danh sách các Việc chưa làm cho Sản phẩm được xác định đầy đủ và được thứ tự hóa đảm bảo cho đợt chạy nước rút (sprint) đầu tiên. Cuộc Gặp gỡ lên Kế hoạch Đợt chạy nước rút sẽ lên kế hoạch cụ thể cho việc tiến hành công việc. Nó bắt đầu khi người “Chủ” Sản phẩm đánh giá lại tầm nhìn, lộ trình, kế hoạch xuất xưởng thành phẩm, và Danh sách các Việc chưa làm cho Sản phẩm với nhóm dự án SCRUM. Nhóm dự án xem lại những tính toán cho các tính năng có trên Danh sách các Việc chưa làm cho Sản phẩm (Product Backlog) để đảm bảo rằng chúng là chính xác nhất có thể. Nhóm dự án quyết định bao nhiêu việc có thể làm được trong đợt chạy nước rút (sprint) (trước mắt) dựa trên thực tế nhóm dự án lớn hay nhỏ, độ dài ngắn của thời gian thực hiện, và năng suất của nhóm. Quan trọng là nhóm dự án phải “rút” được các mục đứng đầu Danh sách các Việc chưa làm cho Sản phẩm mà họ có thể hoàn tất trong 30 ngày của đợt chạy nước rút (trước mắt). Khi nhóm dự án đã chọn được tập hợp những tính năng ưu tiên nhất từ Danh sách các Việc chưa làm cho Sản phẩm, “Trưởng” SCRUM sẽ lãnh đạo nhóm dự án lên kế hoạch chia nhỏ các tính năng sản phẩm chưa làm thành những phần việc khác nhau trong đợt chạy nước rút (sprint). Đấy là những phần việc phát triển cụ thể cần thiết cho việc triển khai một tính năng và thiết lập Danh sách các Việc chưa làm trong Đợt chạy nước rút (Sprint Backlog). Trong giai đoạn này cuộc Gặp lên Kế hoạch Đợt chạy nước rút thường được ước tính vào khoảng tối đa là 4 giờ đồng hồ.

(Gặp gỡ) SCRUM hàng ngày

Một khi việc lên kế hoạch đã hoàn tất, đợt chạy nước rút sẽ bắt đầu vòng lặp của nó. Mỗi ngày, “Trưởng” SCRUM chủ trì cuộc họp SCRUM hàng ngày. Họp SCRUM hàng ngày kéo dài khoảng 15 phút nhằm làm sáng tỏ tình trạng (hiện tại) của dự án SCRUM. Mỗi thành viên trong nhóm sẽ phải trả lời 3 câu hỏi:
1. Bạn đã làm gì kể từ cuộc gặp SCRUM (hàng ngày) lần trước?
2. Bạn tính hôm nay sẽ làm gì?
3. Có gì cản trở công việc bạn dự tính sẽ làm hôm nay hay không?

Trong khi ai cũng có thể tham gia cuộc họp này, thì chỉ những thành viên nhóm dự án trực tiếp có trách nhiệm với những việc cụ thể trong SCRUM mới được quyền phát biểu. Mục tiêu là để kịp thời có ý tưởng cho dự án, để phát hiện những vấn đề mới có liên quan lẫn nhau, để xác định những yêu cầu cá nhân của các thành viên, và để trực tiếp điều chỉnh kế hoạch công việc khi cần nhằm đáp ứng những yêu cầu trong ngày.

Nhìn nhận lại Đợt chạy nước rút (Sprint Retrospective)

Cuộc họp Nhìn nhận lại Đợt chạy nước rút thường vào khoảng 3 giờ đồng hồ. Tham dự cuộc họp chỉ gồm nhóm dự án, “Trưởng” SCRUM, và “Chủ” Sản phẩm. Cuộc họp bắt đầu với việc tất cả các thành viên trong nhóm dự án trả lời 2 câu hỏi:
1. Điều gì đã làm tốt trong đợt chạy nước rút lần trước?
2. Những gì đã có thể được cải thiện hơn trong đợt chạy nước rút lần trước?

“Trưởng” SCRUM sẽ ghi chép lại các câu trả lời trong một mẫu tóm tắt, và nhóm dự án sẽ thứ tự hóa những dự tính cải tiến mà họ bàn với nhau. “Trưởng” SCRUM không cho câu trả lời trong cuộc họp, nhưng hỗ trợ nhóm tìm kiếm các cơ hội cải thiện cho quy trình SCRUM. Các yêu cầu cần làm, có thể đưa vào (danh sách) những việc sẽ làm trong đợt chạy tiếp sức tiếp theo, đều được xác định và xem như những yêu cầu quan trọng, không liên quan đến chức năng trong Danh sách các Việc chưa làm cho Sản phẩm.

Gặp gỡ Đánh giá Đợt chạy nước rút (Sprint Review Meeting)

Cuối mỗi đợt chạy nước rút, có một buổi Gặp gỡ Đánh giá (lại) Đợt chạy nước rút. Cuộc gặp này thường kéo dài 4 giờ đồng hồ. Nửa đầu của cuộc gặp, nhóm dự án sẽ trình bày với “Chủ” Sản phẩm về những code đã phát triển được trong đợt chạy nước rút đó. “Chủ” Sản phẩm chủ trì nửa đầu của cuộc gặp và mời những người có liên quan đến tham dự. Những vấn đề về tình hình kinh doanh, thị trường và công nghệ sẽ được đánh giá lại. Người “Chủ” Sản phẩm sẽ xác định xem những mục nào trong Danh sách các Việc chưa làm cho Sản phẩm đã hoàn tất xong trong đợt chạy nước rút đó, và sẽ thảo luận với nhóm dự án SCRUM và các đối tượng liên quan về cách tốt nhất để thứ tự hóa lại Danh sách các Việc chưa làm cho Sản phẩm trong đợt chạy tiếp sức tiếp theo. Mục tiêu cho đợt chạy tiếp sức tiếp theo sẽ được xác định. Nửa sau của cuộc Gặp gỡ Đánh giá (lại) Đợt chạy nước rút là thời gian cho phép nhóm dự án SCRUM đánh giá lại các mặt, “Trưởng” SCRUM sẽ chủ trì phần này. Nhóm dự án sẽ đánh giá cách thức họ đã làm việc với nhau trong đợt chạy nước rút (vừa qua) và xác định rõ các hình thức tích cực để làm việc với nhau nhằm khuyến khích những cách làm đó trong tương lai. Nhóm dự án đồng thời xác định những gì có thể làm tốt hơn và phát triển các chiến lược để cải thiện (hơn nữa).

Sau cuộc Gặp gỡ Đánh giá (lại) SCRUM, quy trình này lặp lại lần nữa. Việc lặp đi lặp lại này sẽ tiếp diễn cho đến khi đủ các tính năng sản phẩm được hoàn tất hoặc sản phẩm được xuất xưởng.

Posted in Uncategorized | Để lại phản hồi

Các giai đoạn trong vòng đời của tên miền.

1.Available

Giai đoạn này tên miền chưa được ai đăng ký. Bạn có thể đăng ký tên miền với điều kiện tên miền hợp lệ.

Tên miền hợp lệ phải có điều kiện gì?

1. Chỉ có thể bao gồm chữ cái, chữ số hoặc dấu -
2. Chiều dài tối đa của tên miền là 64 ký tự
3. Ví dụ:

* abcxyz.com
* 38681888.com
* alo123.net
* call-me-123.net
* …

2.Registered

Giai đoạn này là tên miền đã được đăng ký, tên miền có thể được sử dụng làm tên website, e-mail, …
Giai đoạn này kéo dài từ 1 – 10 năm.

3.Expired

Thời điểm hết hạn của tên miền

4.Auto-Renew

Giai đoạn này có thể hiểu là giai đoạn tên miền đã hết hạn, nhưng vẫn có thể cứu được tên miền.
Thường giai đoạn này DNS sẽ bị Registrar đổi nên website, email thường bị gián đoạn hoạt động. Mặc dù thông tin quản lý tên miền vẫn còn giữ nguyên.
Thời gian này là thời gian có thể gia hạn tên miền để tên miền quay lại giai đọan Registered

Tại sao 0 – 45 ngày?

Giai đoạn này có thể giản từ 0 – 45 ngày, do ICANN quy định. Registrar có thể dựa vào đó để ấn định con số ngày cụ thể.
Thường các Registrar ấn định thời gian giai đoạn này là 30 hoặc 40 ngày.

5.Redemption

* Giai đoạn này có thể coi tên miền đã chết, toàn bộ thông tin quản trị của tên miền đã bị xoá, mọi hoạt động dựa trên tên miền (Web, mail, …) đều bị chấm dứt.
* Tên miền có thể cứu bằng cách liên hệ trực tiếp đến Registrar để yêu cầu chuộc tên miền, chi phí phải trả = phí chuộc + phí gia hạn tên miền tối thiểu 1 năm
* Chi phí phải trả = phí chuộc + phí gia hạn tên miền tối thiểu 1 năm
* Giai đoạn này kéo dài 30 ngày.

Phí chuộc? Phí gia hạn?

* Là phí trả cho Registrar để chuộc lại tên miền đã vào trạng thái Redemption
* Tuỳ thuộc vào quy định của Registrar mà phí chuộc có thể là: 100, 120, 140, 175, 200$, …
* Sau khi chuộc được tên miền, tên miền cần được gia hạn từ 1 – 10 năm để quay lại trạng thái Registered.

6.Pending Delete

1. Giai đoạn này tên miền đã chết hoàn toàn, không có khả năng cứu.
2. Thời gian kéo dài 5 ngày

7.Released (Available)

* Tên miền trở về trạng thái ban đầu Available, chờ được đăng trở lại. Bắt đầu một vòng đời mới.
* Tên miền có giá trị rất dễ bị mất vĩnh viễn
* Tên miền có lượng truy cập nhiều thường được các bộ máy săn tên miền “quan tâm”.
* Khi tên miền vừa Release mà chủ tên miền không kịp đăng ký lại thì sẽ bị bộ máy kia sẽ nhanh tay đăng ký trước.

Posted in Uncategorized | Để lại phản hồi

Mô hình mạng xã hội liệu có bị khai tử?

Cuối tháng 7/2009 tỷ phú phần mềm Bill Gates tuyên bố, ông phải ngưng sử dụng Facebook bởi vì “có quá nhiều người muốn làm bạn” với ông.
Điều này có vẻ trái ngược với tính chất của một mạng xã hội như Facebook và khi người từ chối nó là Bill Gates, thì có nên đặt câu hỏi về khả năng mô hình mạng xã hội có sẽ bị “thất sủng”?

“Quá nhiều bạn”

Phát biểu trước các thính giả tại New Delhi (Ấn Độ) ngày 25/7, Bill Gates tiết lộ rằng, có khoảng 10.000 người muốn làm bạn với ông trên Facebook, và ông gặp khó khăn trong việc suy nghĩ xem ông biết những ai trong số họ.
Mặc dù tự khẳng định “không phải là con người của công nghệ 24 giờ mỗi ngày”, nhưng rõ ràng là Gates có lý do chính đáng cho hành động và tuyên bố của mình, điều có thể có tác động không nhỏ tới thế giới công nghệ.
Người đồng tình với quan điểm của Bill Gates là Rod Beckstrom, Chủ tịch Tổ chức quản lý tên miền ICANN.
Bản thân trường hợp của Gates cũng là một ví dụ minh họa cho lý thuyết của Beckstrom. Mô hình “định giá trang mạng internet” do Beckstrom xây dựng (còn được gọi là “Beckstrom’s Law”) cho rằng, giá trị của một trang mạng là tổng giá trị ròng các giao dịch của mỗi người sử dụng.
Cốt lõi của mô hình này là các giao dịch giá trị cho những người sử dụng là tổng lợi ích từ tất cả các giao dịch trong trang mạng, trừ đi tổng chi phí của các giao dịch đó.
Cây viết Taylor Buley (Forbes) lấy một ví dụ minh họa giả sử trong suốt một năm, mỗi tháng bạn bỏ ra 100 USD để mua hàng trên mạng Amazon.
Bạn vẫn có thể mua món hàng tương tự như thế mà không cần thông qua mạng với cùng mức giá, nhưng bạn có thể sẽ phải trả những khoản chi phí phụ trội như chi phí đi lại để mua hàng, chi phí cơ hội của việc bỏ nhiều thời gian hơn cho giao dịch.
Nếu chi phí cho việc sử dụng phương thức thương mại điện tử này là 50 USD/tháng, tính trên giá trị sổ sách của khoản chi tiêu 100 USD, thì giá trị của mạng Amazon với bạn sẽ là 600 USD/năm. Giả định tiếp, chi phí kết nối internet và máy tính là 40 USD/tháng, tính cho 1 năm sẽ là 480 USD.
Do vậy, giá trị mà bạn nhận được từ Amazon còn là 600-480 = 120 USD. Còn giá trị chung của Amazon sẽ được tính bằng tổng các giá trị mà mỗi người dùng mạng này nhận được.
Mô hình của Beckstrom không chỉ được áp dụng ới mạng internet, mà còn hợp lý với xã hội thực tế.
Buley dẫn chứng hãy coi mạng xã hội như là một câu lạc bộ golf, càng nhiều thành viên càng tốt, vì điều đó giúp cắt giảm chi phí, nhưng ở điểm nào đó, bất lợi là số lượng “tee” sẽ không đủ cho quá nhiều thành viên.
Beckstrom cho rằng, giá trị mạng là một vấn đề đau đầu mà các mạng xã hội như Facebook và Twitter – vốn muốn phát triển tới số lượng cực lớn thành viên, phải đối mặt.
Một khi người dùng bắt đầu quan tâm tới việc mạng xã hội đem lại giá trị đến đâu cho họ, sẽ có thể có một biến tố mà theo đó, thêm một thành viên mới là thêm bất tiện cho những thành viên cũ. Rod Beckstrom và Bill Gates gặp nhau ở điểm này.
Theo Gates, giá trị của Facebook giảm xuống khi mỗi thành viên mới gửi đi một yêu cầu kết bạn.

Kinh tế quy mô còn thích hợp?

Quan điểm của Rod Beckstrom có vẻ trái ngược với sự thừa nhận rộng lãi lý thuyết “Metcalfe’s Law” – vốn đánh giá giá trị của một mạng dựa trên số lượng thành viên tham gia.
Beckstrom nói: “Nếu Metcalfe’s Law là đúng, thì Bill Gates sẽ nghĩ càng nhiều bạn càng tốt. Nhưng thực tế lại không như thế”. Tương tự, mô hình kinh tế quy mô (nếu sản xuất với quy mô càng lớn thì chi phí và giá thành trên một đơn vị sản phẩm sẽ càng giảm, làm gia tăng lợi nhuận và khả năng cạnh tranh) cũng có thể không còn là cơ sở hợp lý cho các mạng xã hội định hướng phát triển cho chính mình.
Beckstrom đã mở ra một cách tiếp cận mới với mạng xã hội, và có lẽ cần phải có thời gian để cộng đồng làm quen với nó. Tuy nhiên, theo ông, lý thuyết này không đơn giản là giá trị sẽ bằng tổng doanh thu trừ đi tổng chi phí. Bạn kiểm lại số lượng giao dịch, và bạn sẽ định giá được chúng.
Trên giác độ tính kinh tế (hiệu quả), lý thuyết của Beckstrom và hành động của Gates đem đến cho những công dân mạng một bài học căn bản: mạng xã hội là một công cụ tiện ích, nhưng đồng thời là địa chỉ tiêu tốn thời gian và là guồng quay mang nặng chi phí cơ hội nếu người dùng không biết sử dụng sao cho thiết thực.

Posted in Uncategorized | Để lại phản hồi

Chiến thuật 24h của Ford – Không làm được trong 24h hãy đưa ra nhóm giải quyết

Mọi việc phải tự giải quyết trong 24h, nếu không làm được, phải lập tức đưa ra để cả nhóm giải quyết. Đó là phong cách mang tên Ford.

Tác giả Fowler là Phó chủ tịch của Ford, phụ trách Chất lượng toàn cầu và Giới thiệu mẫu xe mới. Trước khi gia nhập Ford vào năm 1990, ông đã có hơn mười năm làm việc với Chrysler và General Motors.

Vài năm trở lại đây, Tập đoàn Ford Motor đã có một cuộc phục hưng ngoạn mục. Một trong những công cụ đắc lực giúp Ford đạt được thành tựu này là Quy tắc 24 Giờ. Đây là một biện pháp quản lý dựa vào câu nói ưa thích của Alan Mulally, CEO của công ty: "Bạn không thể kiểm soát một bí mật".

Những nhiệm vụ phức tạp (chẳng hạn như lên kế hoạch, thiết kế, phát triển, sản xuất, marketing, và bán hàng) chung quy lại cũng chỉ là chuyện vạch chiến thuật và thực hiện chúng, là các quyết định quản lý hàng ngày khiến cho toàn bộ hệ thống vận hành được suôn sẻ hay phải dừng lại đột ngột.

Tại Ford, quá trình giới thiệu sản phẩm – khi đã hoàn tất giai đoạn phát triển sản phẩm, chuẩn bị đưa vào sản xuất và gửi tới đại lý – được thực hiện rất nghiêm ngặt và đồng bộ. Mọi thứ đều phải ăn khớp nhịp nhàng với nhau.

Đó là một giai đoạn thiết yếu, kéo dài hàng tháng trời và diễn ra với một "nhịp điệu" chính xác gần như tuyệt đối; hơn nữa, càng lại gần thời điểm mà chúng tôi gọi là "công việc 1" – khi chiếc xe đầu tiên được bán ra trên thị trường – sự điều hòa về thời gian lại càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Để hoàn tất việc lắp ráp một chiếc xe, cần phải huy động từ 1.500 – 3.000 phụ tùng từ khắp các nhà máy ở các nơi trên thế giới. Sai sót lúc nào cũng có thể xảy ra.

Ford đầu tư rất nhiều thời gian cho việc phát hiện các vấn đề ở sản phẩm mới. Trong giai đoạn này, Ford chạy xe thử và kiểm tra thật kỹ xem có sai sót gì buộc phải trì hoãn buổi ra mắt sản phẩm không. Giả sử tôi là một kỹ sư, và tình cờ tôi phát hiện ra một vấn đề như vậy. Theo lẽ thường, có lẽ tôi sẽ muốn tự mình giải quyết vấn đề đó. Song đó lại không phải là việc nên làm chút nào. Bởi lẽ, nếu tôi xử lý một rắc rối quá lâu, và cứ lẳng lặng làm việc một mình như vậy, thì cả nhóm – và lịch trình giới thiệu sản phẩm – sẽ phải gánh chịu hậu quả.

Vì thế nên Ford đặt ra một quy tắc. Nội dung của quy tắc này là: "Khi phát hiện ra một sai sót, bạn chỉ có 24 giờ để tự tìm hiểu và tìm cách xử lý một mình. Sau thời gian đó, bạn phải công bố cho mọi người biết về sai sót này". Đây là một quá trình tăng dần đều, bởi chúng tôi có thể giải quyết những vấn đề đó khá nhanh chóng khi tận dụng nguồn tài sản trí tuệ dồi dào trong công ty.

Cũng có khi bản thân người nhân viên hoặc nhóm dự án của họ thông báo ngay: "Đây là vấn đề mới phát sinh", và yêu cầu chúng tôi nêu vấn đề này tại các cuộc họp lãnh đạo cấp cao định kỳ. Thường thì tại các buổi làm việc như thế này chúng tôi chỉ đưa ra những thông tin đã có sự chuẩn bị tốt nhất; vì thế, trong tình huống đó, thay vì trình lên ban lãnh đạo cấp cao một vấn đề mà bản thân mình cũng chưa nhận thức được đầy đủ tầm quan trọng của nó, chúng tôi quay lại bảo với nhóm phụ trách rằng: "Các anh có 24 giờ để nghiên cứu về vấn đề này, sau đó hãy lên tiếng nhờ cấp trên giúp đỡ".

Khoảng thời gian 24 giờ giống như là một đề tài chủ đạo ở Ford vậy. Đó là một công cụ hữu ích, một biện pháp đánh giá chất lượng làm việc tuy trừu tượng nhưng lại hết sức thực tế. Chẳng hạn, chúng tôi còn có một quy tắc khác rằng tất cả các yêu cầu bảo hành hoặc thắc mắc khiếu nại do các đại lý hay khách hàng gửi tới một nhà máy của Ford đều phải được xử lý trong vòng 24 giờ.

Quy tắc 24 giờ chỉ là một bước đơn giản trong một quá trình lớn hơn mà Ford đã và đang thực hiện; quá trình này hiện đang cho thấy những kết quả khả quan bước đầu. 5 năm qua, Ford đã cải thiện đáng kể chất lượng xe của mình, và khách hàng mua xe cũng đã có những phản hồi tích cực. Ford vừa trải qua quý thứ 6 liên tục có lãi – nhờ thành quả này mà Ford được Bloomberg bình chọn là "nhà sản xuất ô tô làm ăn có lãi nhất thế giới".

Tính tới tháng 9 vừa qua, doanh số của Ford năm nay ở Mỹ đã tăng 21%, gấp đôi mức trung bình toàn ngành; còn thị phần cũng tăng từ 14,6% năm ngoái lên 15,9% trong quý III này.

Mới đầu năm nay, Ford cũng có được một vị trí cao nhất trong lịch sử hoạt động của mình trong kết quả bình chọn của cuộc Điều tra Chất lượng Sơ bộ do công ty nghiên cứu thị trường J.D Power and Associates thực hiện.

Có rất nhiều nguyên nhân – thực ra là có hàng nghìn nguyên nhân khiến cho "cuộc phục hưng của Ford" (theo cách gọi của giới truyền thông) trở thành hiện thực. Thành Rome không dễ gì xây xong trong một sớm một chiều, và cuộc phục hưng về chất lượng của Ford cũng không diễn ra trong nháy mắt. Nhưng khi được sử dụng hiệu quả, chiến thuật 24 giờ có thể tạo ra những thay đổi lớn lao.

Posted in Uncategorized | Để lại phản hồi

Cơ chế làm việc của Search Engine và SEO

Từ lý thuyết đến thực tế, chúng ta đều biết rằng từ khóa – keyword chúng là thành phần SEO quan trọng nhất đối với từng Search Engine, hiểu nôm na rằng đó là những chuỗi ký tự hiển thị trùng khớp với thông tin lưu trữ trong cơ sở dữ liệu. Lựa chọn đúng từ khóa và tối ưu hóa chúng là bước làm quan trọng và luôn phải được ưu tiên trong toàn bộ “chiến dịch” SEO. Nếu người dùng thực hiện không tốt ngay từ những bước đầu tiên này thì toàn bộ quãng đường tiếp theo sẽ trở nên khó khăn hơn rất nhiều, và phần lớn trường hợp đó là người dùng đang lãng phí tiền bạc, công sức và thời gian mà không thu lại được kết quả khả quan nào. Đối với những chuyên gia hoặc người có nhiều kinh nghiệm thì việc xác định đúng từ khóa cần dùng cũng như cách thức tối ưu hóa chúng không có gì khó khăn và phức tạp, và trên tất cả, những keyword được lựa chọn đó phải hội tụ đầy đủ các yếu tố cần thiết như nhu cầu tìm kiếm của người sử dụng, ít đối thủ cạnh tranh, và phải tóm tắt được nội dung cũng như ý chính của toàn bộ website.

Chọn đúng từ khóa để tối ưu hóa:

Có vẻ như thời điểm mà người sử dụng dễ dàng lọt được vào top kết quả hiển thị khi gõ từ khóa bất kỳ đã cách đây hơn 10 năm. Cho đến thời điểm hiện tại, khi mà Internet đã trở nên phổ biến hơn lúc nào hết, thì việc cạnh tranh và phát triển nhằm duy trì vị trí top với chuỗi từ khóa tìm kiếm 1 từ gần như không còn khả thi, mà thay vào đó xu hướng của ngày nay là chuỗi tìm kiếm bao gồm 2 – 3 sẽ trở nên thực tế hơn.

Ví dụ, nếu bạn đã tạo dựng được 1 website chuyên nghiên cứu về loài chó – dog, thì đừng nên cố tìm kiếm và tối ưu hóa những từ khóa như dog hoặc dogs, mà thay vào đó là các chuỗi từ khóa được tập trung nhiều hơn, chẳng hạn như "dog obedience training" – huấn luyện cho chó vâng lời, "small dog breeds" – chó giống nhỏ, "homemade dog food" – tự làm thức ăn cho chó, "dog food recipes" – công thức chế biến đồ ăn cho chó… Tỉ lệ thành công khi tập trung vào những từ khóa 1 – 2 từ là rất ít, do vậy nên “nhắm” vào những cụm từ khóa, nhiều người ít để ý tới nhưng vẫn đủ để nói lên nội dung chính của website.

Và tất nhiên, việc cần làm trước tiên là đưa ra các từ khóa để miêu tả nội dung chính của trang web. Và cách tốt nhất là làm so đoán được người sử dụng sẽ tìm kiếm những gì khi truy cập và tìm kiếm thông tin trong website của bạn. Bên cạnh đó, chúng ta có thể sử dụng dịch vụ hỗ trợ có sẵn Website Keyword Suggestions Tool với rất nhiều gợi ý về danh sách hiển thị ban đầu của các từ khóa. Nhập danh sách các từ khóa bạn muốn, được thực hiện bởi Google keyword Suggestion tool, hệ thống sẽ hiển thị danh sách các từ khóa có liên quan.

Khi chọn từ khóa để tối ưu hóa, chúng ta cần phải xem xét kỹ càng số lần từ khóa đó sẽ được tìm kiếm trong 1 khoảng thời gian nhất định như theo tuần, tháng, năm… mà bên cạnh đó còn có mỗi liên quan giữa chính các từ khóa đó trong website. Mặc dù việc thu hẹp danh sách các từ khóa sẽ giảm thiểu số lượng công việc đi đáng kể, nhưng bù vào đó thì người sử dụng cũng sẽ có ít tùy chọn hơn và kết quả hệ thống trả về cũng trở nên “có chất lượng” hơn so với nhiều từ khóa mang tính chất chung chung. Mặt khác, giả dụ rằng có 1 phần trong hệ thống website của bạn, đây là nơi tập trung và trao đổi kinh nghiệm về việc chọn, nuôi và dạy chó sao cho đạt hiệu quả cao nhất, với cụm từ khóa cụ thể là adopt german shepherd sẽ mang lại nhiều kết quả hơn so với german shepherd dogs, nếu suy luận theo cách logic thì trang web này không mấy hấp dẫn đối với những người chủ hiện tại đang sở hữu các chú chó chăn cừu của Đức, nhưng sẽ thu hút nhiều sự quan tâm của những người có xu hướng và sở thích chỉ nuôi chó chăn cừu của Đức mà thôi… Do vậy, hãy để ý đến số lượng tìm kiếm tập trung vào các từ khóa, cụm từ khóa trong tháng, và qua đó rút ra được kinh nghiệm cũng như sự đồng nhất giữa từ khóa và nội dung cho trang web của bạn.

Mật độ từ khóa:

Sau khi chọn được đúng các keyword miêu tả nội dung của website và được cho là nhận được nhiều sự quan tâm nhất từ phía người dùng, bước tiếp theo là bố trí, sắp xếp mật độ từ khóa trên từng phần nội dung trên trang web để tránh khỏi sự nhàm chán cũng như lặp đi lặp lại nhiều lần trong 1 văn bản. Mặc dù đây không phải là yếu tố quan trọng nhất trong chiến dịch SEO, nhưng nhìn chung thì mật độ này càng cao, mức độ liên quan khi tìm kiếm các chuỗi dữ liệu, từ khóa giữa các trang sẽ càng trở nên chặt chẽ. Theo khuyến cáo của nhiều chuyên gia thì các bạn nên giữ mật độ này ở mức 3 – 7% đối với 2 – 3 từ khóa chính, và 1 – 2% đối với từ khóa phụ. Để chắc chắn, các bạn có thể sử dụng công cụ hỗ trợ Keyword Density Checker để xác định mật độ này trên website của bạn.

Mặc dù không có bất kỳ quy định chặt chẽ nào, do vậy các bạn hãy thử áp dụng phương pháp tối ưu hóa này với 1 số lượng từ khóa nhất định, chẳng hạn từ 5 – 10 keyword là ổn. Còn nếu muốn áp dụng với danh sách bao gồm 300 từ, thì vô tình chúng ta đã phá vỡ trật tự cần thiết tối thiểu trong website, mà còn phản tác dụng, gây ra hiệu ứng tiêu cực dành cho người đọc. Bên cạnh đó, còn có một số hình phạt nặng nề hơn (bao gồm việc loại trừ khỏi hệ thống Search Engine) đối với tình trạng “nhồi nhét” từ khóa nhằm tự tăng liên kết giữa các từ khóa, qua đó gây ảnh hưởng tới kết quả trả về từ hệ thống.

Sắp xếp từ khóa tại nhiều vị trí khác nhau:

Với các đặc điểm như đã trình bày ở phía trên, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra rằng yếu tố quan trọng của từ khóa – keyword không chỉ ở số lượng, và còn phải bắt buộc yêu cầu cả về chất lượng, chẳng hạn như các bạn bố trí và sắp nhiều nhiều từ khóa hơn ở mục title, heading, và đoạn mô tả đầu tiên trong bài – những con số này còn được tính nhiều hơn nếu bạn đặt nhiều keyword hơn ở phía cuối trang. Nguyên nhân chính là do đường URL (đặc biệt là domain), tên file và thư mục, trang title và phần heading tương ứng của từng đoạn văn riêng biệt… quan trọng hơn rất nhiều so với phần text nội dung nguyên bản. Tương tự như vậy, nếu bạn có 1 số lượng từ khóa ngang bằng với các đối thủ cạnh tranh, nhưng biết cách sắp xếp và bố trí phù hợp từ khóa lẫn trong URL như đã đề cập ở trên, thì thứ hạng website của bạn sẽ được đẩy lên rất cao, đặc biệt là với Yahoo!.

Đặt keyword trong đường URL và tên file: trên thực tế, tên miền hoặc toàn bộ đường dẫn URL nói lên rất nhiều điều về website của bạn. Giả sử rằng, nếu xây dựng 1 hệ thống website chuyên nghiên cứu về các giống chó, thì các bạn nên chọn và đặt domain có gắn liền với một số ký tự như “dog”, “dogs”, hoặc “puppy”… chẳng hạn chúng ta có thể chọn tên miền: dog-adopt.net thì sẽ có lợi hơn rất nhiều so với domain: animal-care.org.Vì trong domain đầu tiên, chúng ta đã gán được 2 từ khóa vô cùng quan trọng là dog – chó và adopt – nuôi dạy, còn với tên miền thứ 2 thì chỉ có một từ khóa phụ được đề cập tới, đó là animal – thú nuôi.

Điểm tiếp theo trong quá trình tìm và chọn tên miền phù hợp, đó là không được “tham lam”. Trong khi quan điểm chung chung của quá trình SEO là cố gắng có được càng nhiều từ khóa trong URL thì sẽ càng tốt hơn, nhưng hãy thử tưởng tượng xem sẽ khó khăn và vất vả như thế nào để tối ưu hóa cũng như nhớ được đường dẫn “dài loằng ngoằng” đến vậy. Do vậy, hãy cân nhắc thật kỹ đến sự cân bằng giữa việc chọn domain và tính khả thi của những tên miền đó. Ví dụ như quantrimang.com sẽ dễ nhớ và mang lại hiệu quả hơn rất nhiều so với:timhieuquantrimang.com, nghiencuuquantrimang.com…

Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể tự tham khảo và tìm được domain như mong muốn, do vậy bạn hãy thử sử dụng công cụ hỗ trợ trong quá trình tìm hiểu này, điển hình như dịch vụ Keyword – Rich Domain Suggestion Tool.

Bên cạnh đó, tên file và thư mục cũng quan trọng không kém trong toàn bộ quá trình này. Thông thường, cácSearch Engine sẽ có tùy chọn riêng cho người sử dụng để thay đổi các trang thành phần có chứa keyword qua tên file. Ví dụ như: http://mydomain.com/dog-adopt.html tuy không bằng http://dog-adopt.net/dog-adopt.html nhưng lại chắc chắn sẽ tốt hơn http://mydomain.com/animal-care.html. Lợi thế của việc đặtkeyword trong tên file so với việc sắp xếp từ khóa trong đường dẫn URL là chúng dễ dàng chỉnh sửa hơn.

Đặt keyword trong trang title: đây cũng là 1 trong những vị trí khá đặc biệt và quan trọng, vì toàn bộ phần thông tin, nội dung trong thẻ <title> thường xuyên được các Search Engine “nhòm ngó” tới, đặc biệt làGoogle. Tuy đây không phải là điều kiện bắt buộc trong phần đặc tả HTML để viết bất kỳ thứ gì trong thẻ <title>(ví dụ, khi chúng ta để trống phần này thì trình duyệt sẽ hiển thị thành “Untitled Document” hoặc tương tự như vậy), trong quá trình SEO thì bước này lại hết sức quan trọng. Do vậy, các bạn hãy cố gắng đặt thông tin miêu tả hoặc nói về nội dung chính của website tại phần này, không nên bỏ trống.

Và không giống như đối với URL, chúng ta có thể viết nhiều dòng tại phần này nếu muốn. Tiếp tục với website về nuôi dạy chó như phần trên đã đề cập, phần thẻ <title> của trang chủ dành cho http://dog-adopt.net/ có thể chứa một số thông tin như:

<title>Adopt a Dog – Save a Life and Bring Joy to Your Home</title>
<title>Everything You Need to Know About Adopting a Dog</title>

Đặt keyword trong phần heading: thông thường, các phần heading riêng rẽ có liên quan đến topic phụ, nếu xét về khía cạnh văn viết thì hoàn toàn không có chút giá trị nào cả, nhưng nếu dựa trên lý thuyết và thực tế áp dụng của SEO thì việc làm này lại đặc biệt hiệu quả, các bạn có thể bố trí và sắp xếp càng nhiều phần heading trong trang càng tốt, và nếu có chèn thêm keyword thì sẽ mang lại hiệu quả tốt hơn nữa.

Thực ra, các bạn không cần phải lo lắng về việc giới hạn ký tự hay nội dung trong phần heading này, đặc biệt đối với các thẻ <h1>, <h2>, <h3>,… nhưng nếu bố trí quá nhiều thì sẽ gây mất “thẩm mỹ” cho website và người đọc sẽ khó có thể tìm thấy thông tin cần thiết. Do vậy, hãy áp dụng cách làm tương tự như với URL, đó là cân nhắc kỹ với độ dài theo yêu cầu của phần heading. Điển hình, với Heading 1 hoặc H1 thì đây là phần font chữ có kích thước khá lớn, và tốt nhất là không nên có quá 8 chữ trong thẻ này, vì nếu không thì phần nội dung sẽ trải dài trên 2 hoặc 3 dòng.

Trên đây là một số điểm cơ bản cần biết về Search Engine Optimization – SEO và quá trình lựa chọn, bố trí cũng như sắp xếp từ khóa – keyword sao cho phù hợp cũng như đạt hiệu quả tối ưu trong trang web. Trong phần tiếp theo của loạt bài về SEO này, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu thêm về các đường link và metatag.

3. Backlink – Một phần quan trọng của SEO

3.1 Backlink là gì?

Theo thuật ngữ layman, có 2 loại đường link: inbound outbound. Outbound link là những link từ website của bạn đến các website khác, trong khi inbound link (hay còn gọi là backlink) là những link từ các website khác đến website của bạn. Ví dụ, nếu cnn.com link tới yourdomain.com (website của bạn), đường link từ cnn.com là một backlink (inbound) cho yourdomain.com. Tuy nhiên, đối với cnn.com, đường link này lại là outbound link. backlink là một trong những phần quan trọng nhất cho một Search Engine Optimisation (SEO) tốt.

3.2 Tại sao Backlink lại quan trọng

Số lượng backlink là một dấu hiệu về sự phổ biến hoặc tầm quan trọng của website. Backlink rất quan trọng đối với SEO bởi một số công cụ tìm kiếm như Google sẽ tin tưởng nhiều hơn đối với những website có nhiềubacklink chất lượng cao cũng như coi những website này thích hợp với kết quả tìm kiếm của họ hơn so với những trang khác trong một truy vấn tìm kiếm.
Do đó, khi công cụ tìm kiếm tính toán độ liên quan của một website với một từ khóa, họ không chỉ xét số lượngbacklink tới trang này mà còn cân nhắc tới chất lượng của chúng. Để xác định được chất lượng, công cụ tìm kiếm sẽ xem xét nội dung của website. Khi backlink đến trang của bạn bắt nguồn từ trang khác và những trang này có nội dung liên quan trới trang của bạn, những backlink này được xem xét thích hợp hơn tới trang của bạn. Nếu backlink được tìm thấy trên các website có nội dung không liên quan, chúng được coi là ít thích hợp hơn. Backlink càng thích hợp, chất lượng của chúng càng cao.

Ví dụ, nếu một webmaster có trang web về cách cứu những chú chó bị bỏ rơi và nhận được một backlink từ trang web khác về chó, chúng được coi có độ thích hợp cao hơn trong đánh giá của công cụ tìm kiếm so với đường link từ website về đua xe. Do đó, độ thích hợp của trang web link trở lại trang của bạn càng cao, chất lượng backlink cũng được nâng lên.

Công cụ tìm kiếm muốn các trang web có một sân chơi bình đẳng và tìm kiếm những đường link được xây dựng tự nhiên qua thời gian. Mặc dù việc chỉnh sửa các trang web để biến chúng thân thiện hơn với SEO là khá dễ dàng, cái khó nằm ở chỗ làm sao để có thể tạo ảnh hưởng tới các website khác và khiến chúng phải link lại về website của bạn. Đây chính là lý do tại sao các công cụ tìm kiếm coi trọng backlink như một yếu tố cực kỳ quan trọng. Thêm vào đó, tiêu chí của công cụ tìm kiếm đối với chất lượng backlink nhận được thậm chí còn khó khăn hơn do các webmasters không chân thật đã cố gắng thực hiện việc lấy backlink bằng các kỹ thuật lừa đảo, lén lút. Họ có thể sử dụng link ẩn, hoặc các page tự động được tạo với mục đích duy nhất là cung cấpbacklink tới các website. Những page này được gọi là link farm. Chúng không chỉ bị công cụ tìm kiếm phớt lờ mà nếu link tới một link farm còn khiến website của bạn bị cấm hoàn toàn.

3.3 Anchor Text – chuỗi ký tự liên kết

Khi một đường link kết hợp với một từ khóa trong đường dẫn siêu liên kết, chúng ta gọi nó là anchor text. Hay, anchor text tạm dịch là “ký tự liên kết” là chuỗi các ký tự ẩn chứa đường dẫn tới một trang Web hay các tài nguyên khác. Ký tự liên kết của một đường link có thể là một trong những nguồn mạnh mẽ nhất mà một webmaster sở hữu. Backlink từ nhiều website với anchor text “chú chó bị lạc” sẽ giúp website của bạn xếp hạng cao hơn đối với từ khóa “chú chó bị lạc”. Sử dụng từ khóa là cách hàng đầu để sử dụng hyperlink tránh link tới những từ như "click here" – những từ không liên quan gì tới website của bạn. Công cụ ‘Backlink Anchor Text Analysis Tool‘ sẽ giúp người dùng tìm kiếm backlink và ký tự đã được sử dụng để link tới website của mình. Nếu phát hiện ra website của mình đang được link từ các website khác, nhưng anchor text không được sử dụng đúng đắn, bạn nên yêu cầu website đó thay đổi anchor text sang từ khóa phù hợp hơn. Điều này sẽ giúp tăng thứ hạng của trang web.

3.4 Cách thức xây dựng Backlink

Ngay cả khi có rất nhiều backlink tới trang web của bạn theo tự nhiên, khi có những backlink chất lượng cao vẫn là điều bất kì ai cũng muốn sở hữu.

a. Công cụ xây dựng backlink: Khi điền một từ khóa tìm kiếm nào đó, công cụ Backlink Builder cung cấp cho người dùng một danh sách các site phù hợp, tại đó, người dùng có thể nhận được một số backlink.

b. Được góp mặt trong sổ địa chỉ: Nếu đang băn khoăn về sự hiện diện của website, việc góp mặt vào những sổ địa chỉ như DMOZ và Yahoo là điều cần làm, không chỉ do đây là cách để lấy miễn phí cácbacklink chất lượng mà nó còn là cách để các công cụ tìm kiếm và khách truy cập tiềm năng có thể nhận ra bạn. Nhìn chung, việc “góp mặt” trong các sổ địa chỉ là miễn phí nhưng mặt hạn chế là đôi khi người dùng sẽ phải chờ tới vài tháng mới được liệt kê vào danh mục bạn chọn.

c. Forum và sổ địa chỉ: Thông thường, công cụ tìm kiếm đánh chỉ số đối với các forum. Vậy nên, việc đăng bài lên forum và trang blog cũng là một cách để lấy backlink chất lượng với anchor text mà bạn muốn. Nếu forum hoặc blog được nhiều người coi trọng, backlink rất có giá trị. Tuy nhiên, trong một vài trường hợp, forum hoặc blog admin có thể chỉnh sửa bài viết của người đăng hay thậm chí là xóa nó nếu nó không phù hợp với điều khoản của forum hoặc blog. Bên cạnh đó, đôi khi nhân viên admin không cho phép link các bài đăng, trừ phi chúng liên quan tới nhau. Trong một vài trường hợp hiếm, chủ sở hữu forum hoặc blog có thể cấm các công cụ tìm kiếm khỏi việc đánh chỉ số chúng. Trong trường hợp như vậy, backlink không có ý nghĩa gì.

d. RSS Feeds: Người dùng có thể cung cấp miễn phí RSS feed đối với những trang yêu thích, khi các trang khác đăng tải RSS feed của bạn, bạn sẽ nhận được backlink về website của mình cùng rất nhiều khách truy cập tiềm năng. Họ sẽ truy cập vào trang của bạn để có thêm thông tin chi tiết về các headline và tiêu đề họ đã đọc được ở trang khác.

e. Phần mềm liên kết: Phần mềm liên kết cũng rất tốt trong việc kiếm thêm khách truy cập (và khách mua hàng) và để xây dựng backlink. Tuy nhiên, đây lại là một cách khá tốn kém bởi nhiệm vụ liên kết chỉ thành công trong khoảng 10 đến 30%. Tuy nhiên, nếu có phần mềm liên kết, tại sao bạn lại không thử dùng nó để lấy thêm backlink chất lượng?

f. Thông báo tin tức và ra thông cáo báo chí: Mặc dù đây không phải là cách xây dựng backlinkhàng ngày phải thực hiện, nhưng cũng là một phương pháp mang lại kết quả tốt nếu sử dụng đúng cách. Có rất nhiều trang đăng tải tin tức và thông cáo báo chí một cách miễn phí hoặc với một mức phí nhỏ. Một bài viết chuyên nghiệp về sự kiện quan trọng nào đó có thể mang lại cho bạn rất nhiều khách truy cập và backlink từ những trang uy tín – một cách tốt để tăng SEO. Phần khó khăn nằm ở chỗ bạn không thể đưa ra một thông cáo báo chí nếu không có sự kiện gì đáng đưa lên mặt báo. Đó chính là lý do tại sao chúng tôi nói thông báo tin tức và thông cáo báo chí không phải là cách tiện lợi khi xây dựng backlink.

3.5 Các hoạt động sử dụng link nên tránh

Có rất nhiều điều phải nói trong những tháng gần đây về link tương tác. Trong một vài cập nhật gần đây của Google, link tương tác là một trong những mục tiêu của bộ lọc công cụ tìm kiếm. Rất nhiều webmaster đã thỏa thuận trao đổi link tương tác nhằm tăng thứ hạng xếp hạng của website. Trong một đường link trao đổi, webmaster này đặt một đường link trên website của họ chỉ tới website của webmaster khác và ngược lại. Rất nhiều đường link như vậy không có chút liên quan nào. Vậy nên, cùng với việc backlink không liên quan bị công cụ tìm kiếm phớt lờ, outbound link như vậy vẫn được tính nhưng lại làm hạ điểm phù hợp của các website. Điều này sẽ khiến một website lớn rớt hạng với Google.

Cách làm việc của Google cũng có điểm sáng tạo khi nó không chỉ xét đến sự phổ biến của website đang link tới mà còn tính tới độ tin cậy của site mà bạn link từ website của mình. Điều này có nghĩa là bạn chỉ gặp vấn đề với công cụ tìm kiếm khi link tới những trang xấu.

Rất nhiều webmaster sở hữu nhiều website. Đôi khi, những trang web này có liên quan tới nhau, đôi khi lại không. Người dùng cũng nên cẩn thận với việc kết nối nhiều website với nhau trên cùng một địa chỉ IP. Nếu bạn sở hữu 7 trang web liên quan tới nhau, sau đó link tới từng website đó trên một page có thể gây tổn hại cho bạn bởi công cụ tìm kiếm có thể xem xét bạn đang cố gắng thực hiện điều mờ ám. Rất nhiều webmaster cố gắng tạo backlink theo cách này và có quá nhiều link tới các site có chung địa chỉ IP giống như việc bom backlink.

Bên cạnh đó, một điều chắc chắn là liên kết giữa nhiều website không giúp người dùng thay đổi lập trường của công cụ tìm kiếm. Lý do duy nhất bạn muốn kết nối các site lại với nhau là để cung cấp cho khách truy cập thêm thông tin và nguồn để truy cập. Trong trường hợp này, có thể chấp nhận được nếu bạn cung cấp cho khách truy cập một đường link tới trang web khác, nhưng hãy cố gắng giữ tối thiểu các đường link liên kết có chung địa chỉ IP. Một hoặc 2 đường link trên một page có thể chấp nhận được.

4. Metatag

4.1 Meta tag là gì?

Meta tag – thẻ meta – được sử dụng để tổng kết thông tin trên một page của công cụ tìm kiếm. Thông tin này không trực tiếp hiển thị đối với những người truy cập website của bạn. Thẻ meta phổ biến nhất là từ khóa –meta keyword – và miêu tả – meta discription.
Một vài năm trước đây, thẻ meta là công cụ hàng đầu để tối ưu hóa công cụ tìm kiếm và có sự tương quan trực tiếp giữa từ khóa trong thẻ meta với thứ hạng trong kết quả tìm kiếm. Tuy nhiên, các thuật toán đã trở nên tốt hơn nhiều và tầm quan trọng của metadata đang giảm dần theo từng ngày.

4.2 Meta Description

Thẻ meta Description là một trong những cách để bạn có thể viết miêu tả cho trang của mình, từ đó cho công cụ tìm kiếm biết được đề tài và chủ đề nào liên quan tới website của bạn. Một số công cụ tìm kiếm (bao gồm cả Google) sử dụng những miêu tả này để giản lược danh sách trong trang kết quả tìm kiếm. Vậy nên, nếu thẻmeta description được viết tốt, bạn có thể thu hút được nhiều lưu lượng tới website của mình hơn.

Ví dụ, đối với một trang về nhận nuôi chó, thẻ meta description có thể như sau:
<Meta Name=“Description“ Content=“Nhận nuôi một chú chó sẽ giúp cuộc sống gia đình của bạn thú vị hơn. Tất cả những gì cần biết mỗi khi muốn nhận nuôi một chú chó đều có ở đây.“>

4.3 Meta Keyword

Khả năng tận dụng tag meta keyword là bao gồm một danh sách các từ khóa mà bạn cho rằng chúng có liên quan tới page của mình. Các công cụ tìm kiếm phổ biến sẽ không tính toán chúng, nhưng đây vẫn là cơ hội để bạn tập trung vào từ khóa chính. Người dùng có thể cho thêm cách viết thay thế (hoặc thậm chí là từ thay thế phổ biến của từ khóa bạn dùng) trong tag meta keyword. Đây có thể là một điều chỉnh nhỏ để tăng thứ hạng tìm kiếm nhưng không vì thế mà chúng ta lại bỏ qua.
Ví dụ:
<Meta name=“Keywords“ Content=“adopt, adoption, dog, dogs, puppy, canine, save a life, homeless animals“>

4.4 Meta Robot

Trong tag này, người dùng sẽ phải xác định các page mình không muốn đánh chỉ số. Sự thật là trên site của bạn có những nội dung cần phải giữ ở đó nhưng không nhất thiết phải đánh chỉ số cho chúng. Liệt kê các page này trong tag meta robot là một cách để loại bỏ chúng khỏi việc bị đánh chỉ số. Cách khác là sử dụng filerobots.txt và đây cũng là cách tốt để thực hiện công việc.
Ví dụ:
<META NAME=“ROBOTS“ CONTENT=“NOINDEX, NOFOLLOW“>

5. Nội dung là hàng đầu

Nếu bạn đang viết nội dung SEO dành cho cả công cụ tìm kiếm lẫn độc giả, việc tối ưu hóa chúng không hề khó chút nào. Tung ra một số từ khóa, sắp xếp chúng theo ngẫu nhiên và xem kết quả nhận được. Đôi khi một số người copy văn bản SEO lại quên mất việc này. Độc giả đọc văn bản của bạn và họ mong chờ một điều gì đó được trả lại so với quãng thời gian và sự quan tâm họ dành cho bạn. Họ muốn có được nội dung tốt và mong muốn của họ đã định hình về cách các công cụ tìm kiếm xếp hạng website của bạn.


5.1 Thế nào gọi là nội dung tốt?

Nội dung SEO tốt có 3 đặc điểm chính:
- Cung cấp thông tin hữu ích được thể hiện theo định dạng thu hút người đọc
- Tăng thứ hạng trong công cụ tìm kiếm
- Thu hút nhiều link từ các website khác
Chú ý rằng người đọc được xếp đầu trong danh sách. Website của bạn cần phải cung cấp thông tin giá trị cho khách truy cập và thực hiện việc này theo cách hấp dẫn nhất. Một vài site chỉ tập trung vào một chủ đề hạn hẹp và họ có thông tin phù hợp với chính bản thân họ. Bạn sẽ phải cạnh tranh. Tự làm mình nổi bật so với chúng bằng các phỏng vấn chuyên gia, danh sách đầy ý nghĩa và nguồn được nghiên cứu kỹ. Hãy cố gắng viết thật tốt hay nhờ ai đó có thể thực hiện việc này, sự đầu tư của bạn sẽ được trả lại bằng số lưu lượng truy cập tăng.

Mặc dù công cụ tìm kiếm không phải là khách hàng chính của bạn, họ vẫn ảnh hưởng tới xếp hạng trang. Ở những ngày đầu của SEO, sử dụng thẻ meta keyword-stuffed đã mang lại rất nhiều lưu lượng truy cập (Keyword Stuffing là thủ thuật liên quan đến các phần trong trang web lặp lại nhiều lần một từ khóa nhất định để gây ảnh hưởng lớn lên kết quả công cụ tìm kiếm). Mọi người không muốn dừng ở một trang có đầy lời hứa hẹn giảm giá vé máy bay cùng với đó là quảng cáo. Dẫu vậy, điều này cũng không có ảnh hưởng gì tới công cụ tìm kiếm. Mỗi lần thuật toán của công cụ tìm kiếm lặp lại, nó nhận được giá trị tốt hơn từ mớ lộn xộn, vậy nên người dùng cũng nên trang bị cho mình những kỹ thuật sắc bén. Thay vì tag meta, họ sử dụng keyword và dàn trải chúng qua một bài báo.

Vào tháng 4 năm 2011, thuật toán của Google đã thay đổi đã làm từ khóa và cụm từ khóa “spam” mất giá nhằm xác định giá trị của một website đối với người xem. Cập nhật này đã tạo ra làn sóng trên Internet. Từ những trang thương mại lớn cho tới các trang blog, công cụ tìm kiếm tăng thứ hạng của những trang có giá trị cao và thực hiện cắt giảm đối với những trang một thời dựa dẫm quá nhiều vào keyword-stuffing. Mặc dù từ khóa không bị mất giá trị nhưng giờ đây nó không còn là dấu hiệu duy nhất cho công cụ tìm kiếm.

Nếu từ khóa SEO đã bị giảm giá trị, link lại tăng giá trị. Nếu trang khác link tới trang của bạn với mục đích đọc, xoa dịu những tranh cãi hoặc xem văn bản đáng tin cậy, công cụ tìm kiếm sẽ xem xét trang của bạn là nơi người xem muốn ghé thăm. Điền trang web của bạn với link "mồi" sẽ giúp nhận được chú ý từ công cụ tìm kiếm và những ai sử dụng chúng. Cách tốt nhất để tạo đường link là sở hữu nội dung mới, mạnh mẽ. Các trang phương tiện truyền thông thậm chí còn cung cấp nhiều tin đồn hơn các page có nội dung lớn. Những đường link này cũng được tính, vậy nên hãy đoạt lấy chúng với các page có nhiều nội dung.

5.2 Viết nội dung SEO cho các công cụ tìm kiếm và cho mọi người

SEO giờ đây không còn mang ý nghĩa phát tán từ khóa giống như chúng ta ném đi những mẩu bánh mì nữa. Công cụ tìm kiếm mới nhất sẽ quét các page giống như khách truy cập vào trang của bạn. Jakob Nielsen, chuyên gia nghiên cứu về tương tác giữa người và máy tại trường đại học Technical University of Copenhagen, phát hiện ra rằng có tới 80% độc giả của một website đọc lướt trang đó thay vì đọc từng dòng một. Họ bỏ ra một phần nhỏ của một giây để quyết định liệu nó có đáng đọc hay không. Lập trình viên công cụ tìm kiếm vẫn sử dụng nghiên cứu này để điều chỉnh và phát minh ra các thuật toán cơ bản hơn và ý nghĩa hơn.

Điều có thể hấp dẫn được người đọc cũng có thể chiếm được chú ý từ công cụ tìm kiếm. Góc bên trái trên cùng của một trang là nơi có giá trị nhất bởi đó chính là địa điểm người đọc chú ý đầu tiên. Hãy đặt những thông tin quan trọng tại đó để các công cụ tìm kiếm và bạn đọc có thể thấy chúng ngay lập tức. Đây cũng là nơi tuyệt vời để đặt box đề mục và danh sách các mục tin.

Chữ đậm sẽ giúp mọi người và công cụ chú ý hơn, nhưng hãy nhớ sử dụng những tag này thật thận trọng. Có quá nhiều chữ đậm trông giống quảng cáo và khiến công cụ tìm kiếm đánh giá thấp trang của bạn. Tag HTML in nghiêng đậm nên dùng cho những khái niệm có ý nghĩa, không phải từ cần nhấn mạnh. In đậm từ “rất” hoặc in nghiêng từ “hơn” cũng chẳng có ý nghĩa gì với công cụ tìm kiếm, vậy nên hãy áp dụng các tag này đối với những khái niệm quan trọng và tiêu đề phụ.

Giờ đây, tìm kiếm sẽ hướng tới các thuật ngữ liên kết và cụm từ liên quan, không chỉ tập trung vào từ khóa. Một ai đó lấy nghĩa từ văn cảnh và dễ dàng phân biệt được từ “cắt” bởi nó áp dụng cho tóc với từ tương đương được áp dụng cho lưu trữ phim hoặc video game. Hãy để cho khách truy cập của bạn – cả người lẫn máy – biết được rõ ràng nghĩa của những gì mình đang đề cập tới. Trong ngôn ngữ SEO, hãy bao gồm cả các từ đồng nghĩa và thuật ngữ liên quan để công cụ tìm kiếm có thể nhận ra mục đích của website.

May mắn thay, vẫn có một cách để làm việc với những thuật nhữ ngư vậy trong nội dung của bạn mà không phải giám sát từ khóa và phần trăm cụm từ khóa: chỉ cần viết ra những gì mà người dùng thích đọc nhất. Nếu bạn viết cho độc giả, công cụ tìm kiếm sẽ thực hiện theo.

5.3 Kẻ thù của SEO – nội dung trùng, spam và bộ lọc

Bạn đang tìm hiểu về nội dung SEO hiện đại nên như thế nào. Tuy nhiên, một điều quan trọng không kém là hiểu rõ về những gì không nên. Nghiên cứu của Nielsen chỉ rõ những gì có thể giữ người đọc ở lại trang và những gì khiến họ phải rời trang. Công cụ tìm kiếm sẽ thu thập những thông tin như vậy và hạ xếp hạng hoặc loại bỏ chúng hoàn toàn khỏi xếp hạng.

Nội dung trùng có thể “đánh chìm” một website. Ngay cả khi nội dung trùng hợp pháp như các bài báo link toàn bộ từ nguồn tin tức và sử dụng quá nhiều trích dẫn sẽ làm hạ giá trị SEO của website. Độc giả không có bất kì lý do gì để truy cập một trang web đăng tải nội dung của những trang web khác. Xếp hạng trang sẽ giảm dần theo thời gian nếu bạn không đăng tải nội dung gốc.

Trong khi hạn chế số lượng nội dung trùng trên trang của mình, bạn cũng cần chú ý tới thời gian cung cấp thông tin. Xây dựng nội dung mới trên nền tảng của nội dung khác bất kì lúc nào có thể. Sẽ mất công hơn khi tổng kết và đồng hóa một tin tức hoặc sử dụng nó như một đường link với bài báo gốc. Tuy nhiên, thực hiện như vậy sẽ giúp trang của bạn có thể cải thiện thứ hạng. Nếu thêm giá trị phù hợp cùng bài viết sắc bén và đường link liên quan, bạn sẽ thấy thứ hạng của mình được cải thiện trong công cụ tìm kiếm.

Phương pháp cũ theo công thức từ khóa và đáp ứng được phần trăm từ khóa không chỉ đã lỗi thời mà nó còn hạ thấp xếp hạng trang của bạn một cách chủ động. Tải nhiều từ khóa là một dấu hiệu của trang web quảng cáo và công cụ tìm kiếm hiểu được điều này. Sử dụng từ liên quan và các cụm từ thích hợp để cải thiện khả năng nhận diện của chủ đề, đánh dấu trang của bạn trở nên giá trị hơn cũng như nâng cao giá trị công cụ tìm kiếm của nó. Văn bản đa dạng cũng giúp khách truy cập (người) dễ đọc hơn.

Nielsen phát hiện ra rằng độc giả thường xa lánh các website có nhiều cụm từ phụ. Rõ ràng, website có nội dung súc tích có giá trị cao hơn nhiều so với những trang có nhiều nội dung dàn trải. Cường điệu hóa và ngôn ngữ quảng cáo – ví dụ, miêu tả một sản phẩm là “tốt chưa từng có” hoặc “giải pháp hoàn hảo” – chẳng đóng góp được gì cho ý nghĩa của văn bản. Độc giả sẽ lọc ra nội dung dàn trải và phần mềm sẽ hạ xếp hạng đối với những site có quá nhiều nội dung như vậy. Do đó, bạn nên giảm thiểu chúng khỏi trang của mình.

Các công cụ tìm kiếm thay đổi thuật toán của họ thường xuyên để có thể cung cấp cho người dùng của mình có kết quả tìm kiếm phù hợp hơn. Cùng với đó, nghệ thuật SEO cũng thay đổi theo. Đối tượng duy nhất của văn bản web là độc giả của nó. Những page cung cấp tiểu thuyết, nội dung hấp dẫn được thể hiện trong định dạng thân thiện với người đọc sẽ được đứng đầu xếp hạng.
Hãy thử Similar Page Checker để kiểm tra sự giống nhau giữa 2 địa chỉ URL.

Trên đây là một số điểm cơ bản cần biết về backlink, meta tag và nội dung của văn bản. Ở phần tiếp theo của loạt bài về SEO này, chúng tôi sẽ cung cấp cho các bạn các thông tin như tính năng bổ sung trực quan và SEO; URL tĩnh so với URL động; đẩy mạnh website để tăng lưu lượng truy cập.

Nguồn

Posted in Uncategorized | Để lại phản hồi

Sơ lược có chế hoạt động của SE

Có quá nhiều người tò mò về search engine (SE) hoạt động như thế nào nhưng lại không biết tìm hiểu bắt đầu từ đâu. Thực ra cơ chế hoạt động của những thứ này khá đơn giản và không có gì là bí mật cả và phổ biến đầy rẫy trên Internet. Việc thực hiện chúng không có gì khó về mặt khoa học nhưng lại là bài toán vô cùng hóc búa về công nghệ – đầu tư – kinh doanh.

Do vậy để giúp những người ngại đọc tôi xin rất vắn tắt về nó và một vài vấn đề liên quan. Tôi sẽ ít dùng từ chuyên môn mà cố gắng "diễn nôm" tối đa:

I. Tổng thể
Một search engine đúng nghĩa phải có hai phần quan trọng:

1) Phân download các trang web (gọi là crawler hoặc spider): phần này có nhiệm vụ lùng sục trên Internet để tìm ra và lấy về mọi trang web có thể.

Cách làm đơn giản: từ một trang web được download về nó sẽ tìm tất cả các liên kết (link) ghi trong trang đó và lại tiếp tục download các trang web này. Cứ dắt díu nhau như vậy một SE sẽ dần dần tìm được mọi trang web trong chuỗi liên kết (nhưng nếu một trang web không được bất cứ trang web nào chỉ đến sẽ không bao giờ được các SE biết tới).

Như vậy vấn đề chính với search engine là phải tìm cách lần mò và download các trang web trên toàn thế giới. Số trang có rất nhiều. Việc này vừa tốn thời gian, vừa tốn băng thông, vừa tốn không gian lưu trữ (rất đắt đỏ). Các hãng đang chạy đua trong việc download số trang này. Google đã download và xử lý được khoảng 2-8 tỷ trang. Người ta ước chừng số trang thật có phải trên 20 tỷ.

2) Cơ sở dữ liệu chỉ mục

Khi đã download một trang web về thì phải xử lý nó trước đã thì mới giúp cho việc tìm kiếm nhanh được. Nếu không xử lý nó thì chỉ riêng việc đọc cả tỷ trang web lưu từ đĩa cứng ra (giả sử dùng 100 máy PC) để tìm xem tài liệu nào có chữ "car" thôi đã mất hàng tiếng tới vài ngày rồi chứ đừng nói là vài mili giây.

Người ta phải dùng một chương trình đọc trang web đã download và phân tích xem nó có những từ nào. Sau đó ghi các thông tin đó vào một bảng thông tin. Ví dụ bảng thông tin cho biết từ "car" có ở tài liệu số 5,6,19,2001…

Bây giờ nếu người dùng tìm chữ "car" thì chỉ cần tra bảng này là search engine ngay lập tức trả về tài liệu 5,6,19,2001… Việc này chỉ đơn thuần là đọc bảng và hiện thông tin tương ứng, chỉ cần một vài máy tính thực hiện trong vài mili giây.

Như vậy việc phân tích "trước" các tài liệu mới mất thời gian, còn việc trả lời kết quả tìm kiếm là khá nhanh.

Thường thì ngoài thông tin về từ và tài liệu tương ứng người ta còn ghi một số thông tin nữa (như vị trí của từ đó trong tài liệu)… Càng thêm nhiều thông tin thì càng tốt nhưng lại làm bảng thông tin phình to và đòi hỏi không gian lưu trữ càng lớn. Lính mới nhập môn có thể sẽ thấy rất ngạc nhiên khi biết thông thường các thông tin lưu về một trang web còn lớn hơn bản thân trang web đó. Ví dụ Google lưu thông tin với hệ số 5: nếu nó download trang web của bạn có kích thước 10 KB thì trung bình nó phải bỏ ra tổng cộng 50KB để lưu lại trang web và các thông tin chỉ mục ứng với trang web đó trong máy của nó. Nếu bạn đã từng bỏ ra vài chục (hoặc trăm) đô để mua một không gian lưu trữ "con con" cho trang web của mình sẽ hiểu các hãng tìm kiếm phải khó khăn và tốn kém như thế nào để cỗ máy của họ lưu thông tin về trang web của bạn.

II. Xây dựng SE

Để xây dựng một SE thực thụ phải giải rất nhiều bài toán lớn và bài toán con. Bài toán con có thể là kiểm chính tả, phương ngữ, page code, loại bỏ thông tin thừa, format tài liệu…

Một trong các bài toán lớn đau đầu là phần cứng. Đơn giản nhất và cũng là vừa tốn kém vừa không hiệu quả là chỉ dùng một (hoặc vài) máy tính. Để thực hiện cho số lớn (tỷ trang) thì cần phải dùng máy tính lớn.

Các công ty như Google chọn hệ máy đơn giản và rẻ tiền hơn: mạng máy tính PC. Thay cho lưu mọi từ trong một máy thì bây giờ thông tin về từ "car" sẽ nằm ở máy số 1, từ "home" sẽ nằm ở máy số 5… Nghe thì đơn giản nhưng quản lý đám máy đó sao cho nhanh, hiệu quả, thông tin qua lại giữa các máy không bị nghẽn mạng nội bộ (LAN) cần đến các chương trình rất tinh vi. Google dùng vài trăm nghìn máy PC cũng có nghĩa là hầu như luôn có ít nhất vài máy tính hỏng mỗi giờ. Việc phát hiện và cô lập máy hỏng rồi đưa thêm máy thay thế mà không ảnh hưởng đến toàn hệ thống cũng đòi những cái đầu thiết kế chương trình rất sáng láng. Nhiều người còn đánh giá riêng phần quản lý này của Google đã phức tạp và "thông minh" hơn nhiều các hệ Windows đầu tư tiền tỷ của MS.

III. Xếp hạng trang
Khi đã có một SE "chạy" được rồi thì người ta quay ra đua nhau chủ yếu ở hệ thống xếp hạng các trang web (page rank). Khi trả về kết quả người ta sẽ trả về các trang web theo thứ hạng này. Người dùng thường chỉ căn cứ vào mấy cái kết quả trên cùng để hài lòng với SE này hay không.

Ví dụ, trang web của hãng toyota có chữ toyota và trang web của bạn cũng có chữ này (ví dụ trong câu "tôi vừa thấy cái ô tô Toyota chạy qua") và người dùng gõ vào toyota. Nếu một SE hiện trang web của bạn ở kết quả đầu tiên và của hãng toyota ở trang 20 thì SE đó coi như đồ bỏ (phải ngược lại mới đúng). Nếu người ta gõ vào W Bush thì nên đưa trang web của ông Bush đang ngồi trong nhà trắng lên đầu, còn ông W Bush nào đó ở Anh phải xuống dưới.

Bạn có thể thấy dễ dàng xử lý "tay" với một vài từ, nhưng nếu làm tự động và cho vài trăm triệu từ hoặc cụm từ sẽ thấy bài toán này khó nhằn làm sao. Thường thì thuật toán xếp hạng rất phức tạp và được coi là bí mật kinh doanh "đầu bảng" của các hãng SE.

Nói tóm lại, thực hiện một search engine "chạy được" cho vài trăm nghìn thậm chí hàng triệu trang web (bằng với xuất phát điểm của Google) với phương tiện hiện nay (dùng 1-5 máy tính) là một bài toán cỡ luận văn sinh viên tốt nghiệp đại học. Nhưng khi con số tăng lên đến hàng tỷ và phải cạnh tranh sống còn với các SE khác thì cần khá nhiều tiền, thời gian, những chương trình tinh vi và một đội ngũ thiết kế và lập trình rất sáng láng.

Baidu bắt đầu với 10 triệu đô thì bạn cũng nên cố gắng bắt đầu ít ra với 1 triệu đô ;)

Theo CuopSW

Posted in Uncategorized | Để lại phản hồi

Sai lầm khi khởi nghiệp

Startup là giao đoạn rất đặc biệt không có điều gì thực sự rỏ ràng cả, do vậy có thể xẩy ra rất nhiều sai lầm

1 Định hướng sai

1.1 Các dạng sai

Có rất nhiều dạng định hướng sai như : định vị thị trường , định vị sản phẩm sai, " chế tạo lại cái bánh xe", Quá sáng tạo – không đủ sức làm hoặc thị trường chưa chấp nhận…

Tuy nhiên một sai lầm hay gặp của dân công nghệ đó là

1.2 Không tạo ra tiền

Quá khứ có nhiều dự án startup không hề quan tâm đến tiền (google, facebook…) nhưng rất thành công. Tuy nhiên sự thành công này đến được do "may mắn" la các ý tưởng này đều liên quan đến tiền và kiếm được rất nhiều tiền.

Mọi dự án định hướng không tạo ra tiền hoặc không đợi được đến lúc có tiền đều thất bại.

2 Con người sai

2.1 Không đủ kỹ năng

Một dự án starup liên quan đến rất nhiều vấn đề , từ CN , thiết kế, marketing… do vậy con người tham gia cũng cần phải có đủ các kỹ năng đó. Thiếu hoặc yếu một trong các kỹ năng trên đều có thể làm một dự án thất bại (99% sản phẩm hoàn hảo không phải là một sản phẩm hoàn hảo)

2.2 Không cùng chí hướng

Có thể xẩy ra ngay từ đầu khi tham gia dự án hoặc là phát sinh trong quá trình thực hiện (vì sẽ có nhiều vấn đề phát sinh) . Đường xa mới biết bạn hiền.

3 Không đủ tiền

Tiền – nguồn lực luôn luôn là quan trọng và cần phải để tâm. Có thể nói là tất cả các thất bại đều có liên quan đến việc không đủ tiền để thực hiện dự án hoặc không đủ tiền duy trì dự án cho đến khi nó thành công.

4 Sai lầm nào là quan trọng

Trên là các sai lầm thường gặp trong quá trình starup các sai lầm thương có tính quan hệ và mọc nối lẫn nhau (sai lầm nọ lại là hệ quả của sai lầm kia). Tuy nhiên thông thường tùy vào nguồn gốc của starup mà thường mắc sai lầm nào đầu tiên (VD dân CN thường mắc sai lầm số 1 còn dẫn Biz thường mắc sai lầm số 2 trước tiên và cả hai đều hay mắc sai lầm số 3 J

Quay lại câu hỏi

5 Sai lầm thường gặp " Về Mặt Quản Lý" ở các công ty starup?

Thực ra khi starup khó mà định liệu được chính xác khối lượng, kế hoạch do đó quản lý kế hoạch, hay chất lượng công việc thực thường khó chính xác. Việc đảm bảo các công việc trên thường do nỗ lực bản thân của các cá nhân tham gia, sự đam mê của họ nhiều hơn là hoạt động quản lý thông thường.

Do vậy Sai Lầm Về Quản Lý tại các startup thường là Không Quan Trọng bằng các sai lầm trên.

Posted in Kinh nghiệm, Tự đánh giá | Để lại phản hồi